Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

hoạt động hải quan phãi minh bạch Khách quan, tin cậy

Để thông tin rõ hơn về phương pháp mà Tổng cục Hải quan đã thực hiện đo thời gian giải phóng hàng trong năm 2013, Báo Hải quan đã có cuộc trao đổi với bà Lê Như Quỳnh (ảnh), Vụ trưởng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Cải cách hiện đại hóa hải quan - đơn vị xây dựng Đề án và trực tiếp thực hiện cuộc đo.

Cán bộ Hải quan

Thời gian qua Ngân hàng thế giới (WB) cũng thực hiện cuộc đo thời gian giải phóng hàng và cho ra kết quả khác với kết quả đo mà Tổng cục Hải quan đã thực hiện. Bà giải thích ra sao về sự khác biệt này?

Nếu đánh giá về cùng một đối tượng, tại cùng một thời điểm, sử dụng cùng một phương pháp mà cho ra các kết quả khác nhau thì chắc chắn phải xem xét ai đúng hơn. Ở trường hợp cụ thể này chúng ta không cần thiết phải làm việc đó bởi sự khác biệt quá rõ về phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện của WB và Tổ chức Hải quan thế giới (WCO).

WB đã thực hiện khảo sát về môi trường kinh doanh đối với hơn 100 quốc gia trên thế giới từ năm 2004, trong đó có khảo sát về hoạt động thương mại qua biên giới và thời gian thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Báo cáo Doing business hàng năm đều chỉ ra thời gian cần thiết để hoàn thành thủ tục cho hàng hóa XNK.

Bài viết liên quan : vận chuyển hàng hóa đi campuchia
 hoạt động hải quan phãi  minh bạch Khách quan, tin cậy

Với 6 bảng trả lời (điền thông tin vào bảng hỏi được cung cấp trên website http://www.doingbusiness.org) của người trả lời đến từ công ty luật, công ty kiểm toán, giảng viên đại học… đánh giá cho thời gian thông quan tại cảng biển lớn tại TP. HCM đối với hàng NK là Máy móc chạy điện, hàng XK là Hàng dệt, đồ trang sức, quần áo; Doing business 2014 xác định: Tổng thời gian thực hiện để XNK hàng hóa trong thời gian 2012-2013 đều là 21 ngày, trong đó thời gian thực hiện cho chuẩn bị hồ sơ đều là 12 ngày (Hồ sơ NK: Chuẩn bị Vận đơn, Lệnh xuất hàng, Hóa đơn thương mại, Tờ khai hải quan, Báo cáo giám định, Phiếu đóng gói, Giấy chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật, Hóa đơn xếp dỡ chiếm 7 ngày; thư tín dụng NK chiếm 5 ngày. Hồ sơ XK: Chuẩn bị Vận đơn, Hóa đơn thương mại, Tờ khai hải quan, Phiếu đóng gói, Giấy chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật chiếm 5 ngày, giấy chứng nhận xuất xứ chiếm 2 ngày, Thư tín dụng XK chiếm 5 ngày), thời gian cho thực hiện thủ tục thông quan từ khi đăng ký tờ khai cho đến khi có quyết định thông quan đều là 4 ngày, thời gian còn lại thuộc xếp dỡ và vận chuyển hàng hóa.

Tổng cục Hải quan thực hiện đo thời gian giải phóng hàng theo Hướng dẫn về nghiên cứu thời gian giải phóng hàng (Time release study - TRS) do WCO ban hành bản năm 2001, rà soát, chỉnh sửa vào năm 2011. Đây là phương pháp nghiên cứu thời gian giải phóng hàng của WCO đã được nhiều Hải quan các nước thành viên áp dụng và thông báo kết quả cho WCO.

Áp dụng phương pháp của WCO, năm 2013 Hải quan Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu thời gian trung bình giải phóng hàng hóa XNK. Kết quả của cuộc nghiên cứu thời gian giải phóng hàng 2013 được thu thập, tổng hợp, phân tích, báo cáo từ  dữ liệu thời gian về quá trình làm thủ tục hải quan của các lô hàng thuộc 7.441 tờ khai hải quan (NK là 4.317, XK là 3.124) được đăng ký trong khoảng thời gian 1 tuần làm việc liên tục từ 9-9-2013 đến 14-9-2013) tại 11 chi cục thuộc 7 Cục hải quan tỉnh, thành phố theo ba tuyến đường cơ bản (biển, hàng không, bộ). Dữ liệu của cuộc nghiên cứu có được trên cơ sở kết hợp ghi nhận trực tiếp thời gian theo thực tế công việc và khai thác trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

Thực tế, khó có thể tránh khỏi việc một số tổ chức sẽ đứng ra thực hiện đo thời gian giải phóng hàng và rất có thể cũng sẽ đưa ra kết quả lệch với kết quả đo của Tổng cục Hải quan. Vậy, thời gian tới, Tổng cục Hải quan có thay đổi gì trong phương pháp đo hoặc có sự phối hợp với một tổ chức nào khác để kết quả đo được khách quan hơn, thưa bà?

Như đã đề cập ở trên, việc các tổ chức xác định phạm vi nghiên cứu, sử dụng các phương pháp khác nhau để thực hiện khảo sát về thời gian giải phóng hàng và có thể sẽ đưa ra kết quả lệch với kết quả đo của Tổng cục Hải quan là hoàn toàn có thể xảy ra. Theo quan điểm cá nhân, không nên so sánh kết quả khi các điều kiện áp dụng không có tính tương đồng. Phương pháp do các tổ chức có uy tín trên thế giới sử dụng đều có cơ sở khoa học. Nhiệm vụ của chúng ta là phải hiểu đúng kết quả công bố của các tổ chức này để có biện pháp xử lý thích hợp.

Khách quan, đảm bảo độ tin cậy, minh bạch luôn được coi là tiêu chí hàng đầu trong công tác đánh giá hiệu quả hoạt động hải quan. Các yếu tố này trong cuộc đo năm 2013 đã được thể hiện ở các khía cạnh sau: Mục đích cuộc nghiên cứu là: phản ánh trung thực thực tiễn làm thủ tục hải quan để làm cơ sở xác định chỉ tiêu giảm thời gian thông quan/giải phóng hàng (giảm ở đâu, giảm như thế nào, giảm được bao nhiêu); Thực hiện theo phương pháp khoa học, tuân thủ hướng dẫn của WCO; Quá trình thực hiện cuộc nghiên cứu được thông tin rộng rãi đến các cơ quan nhà nước có liên quan và cộng đồng DN; Lực lượng tham gia cuộc nghiên cứu bao gồm các cơ quan, tổ chức trực tiếp, gián tiếp liên quan đến quá trình làm thủ tục cho hàng hóa XNK; Quá trình tổng hợp, phân tích để lập báo cáo, các biện pháp kiểm tra chéo dữ liệu đã được áp dụng (thông qua đối chiếu ghi nhận thực tế công việc với dữ liệu trên hệ thống; đối chiếu dữ liệu ghi nhận của các lực lượng tham gia đo với nhau); Công bố công khai kết quả cuộc nghiên cứu.

Là thành viên của WCO, Hải quan Việt Nam sẽ tiếp tục áp dụng bản hướng dẫn của WCO về nghiên cứu thời gian giải phóng hàng và báo cáo kết quả lên Tổ chức này. Việc tổ chức một cuộc nghiên cứu thời gian giải phóng hàng cấp quốc gia tiêu tốn đáng kể về thời gian và nguồn lực.

Để tổ chức triển khai thành công cuộc nghiên cứu thời gian giải phóng hàng lần tới, ngoài việc lập kế hoạch chi tiết, đầy đủ, khả thi, khai thác tối đa sự hỗ trợ của CNTT thì các vấn đề  sau cũng phải được chú trọng. Đó là: Chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực cần thiết, ổn định và sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của cuộc đo; Tập huấn đào tạo bài bản, chu đáo  trước khi triển khai chính thức cuộc đo; Chủ động tích cực hơn nữa trong công tác phối hợp trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan các cấp với các đơn vị, cơ quan quản lý chuyên ngành có liên quan trước, trong và sau khi chính thức tổ chức cuộc đo; Tăng cường công tác tuyên truyền để cộng đồng DN hiểu rõ hơn về lợi ích đem lại từ cuộc đo qua đó tham gia tích cực, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được phân công trong cuộc đo và tham gia giám sát  kết quả cuộc đo.

Hiện tại dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (GIG) do USAID tài trợ đã dành một cấu phần hoạt động hỗ trợ cho cơ quan Hải quan trong đó có chỉ số đánh giá hoạt động hải quan. Chúng tôi dự kiến sẽ đưa nội dung triển khai nghiên cứu thời gian giải phóng hàng năm 2015 vào chương trình này. Bên cạnh đó đối tác trong nước tham gia vào quá trình giám sát chắc không thể thiếu vai trò của Tổ chức đại diện cho cộng đồng DN Việt Nam .

Xin cảm ơn bà!

Bagikan

Jangan lewatkan

hoạt động hải quan phãi minh bạch Khách quan, tin cậy
4/ 5
Oleh

Subscribe via email

Suka dengan artikel di atas? Tambahkan email Anda untuk berlangganan.